Chunks Of Sound

Phương pháp cụm âm thanh giúp chạm đến cảm xúc dễ hơn, và từ đó "mang tiền về cho mình" được nhiều hơn.

Đây là một phân tích đầy đủ của CHUNKS về quá trình luyện tập Speaking dành cho người đã có nền tảng cơ bản về ngữ pháp, từ vựng và phát âm. Đây không đơn thuần là những kiến giải mang tính tư biện về ngôn ngữ, mà là sự kết hợp nội quan của người hướng dẫn vào thực nghiệm của quá trình luyện tập nói trực tiếp trên lớp của học viên.

Nhằm mang lại sự thoải mái gần gũi và dễ hiểu cho người đọc, bài viết dưới đây đã phần nào được viết bằng ngôn ngữ nói.

vì sao lại là nói?

Ngay từ đầu, câu hỏi trước nhất của mỗi chúng ta có lẽ là vì sao lại là nói?


Chúng ta đến với thế giới này bằng những âm thanh. Một đứa trẻ sẽ bắt đầu thu thập thông tin từ thế giới bên ngoài bằng việc nghe và nhìn, nhưng rõ ràng việc nghe sẽ đến trước.

 
Ở giai đoạn chừng 12 tháng đầu tiên, tụi nhỏ như cái TV ngược ấy. Thay vì phát thanh và truyền hình thì chúng chỉ thuần tiếp nhận tín hiệu âm thanh và hình ảnh, tức là chỉ có nghe và nhìn. 

Qua tiệc đầy năm, đa phần chúng sẽ bắt đầu nói được những chữ đầu tiên. Tiếp đó, chúng ta sẽ được gửi đến nhà trẻ để mấy cô giáo ở đó giúp cho học nhận diện mặt chữ và làm quen với những con số để bắt đầu quá trình đọc. Chúng học đọc cơ bản được mấy năm? Thường là 3 năm từ mẫu giáo đến khi vào lớp 1 trước khi phải đánh vật với cái môn gọi là “tập làm văn” huyền thoại kéo dài 12 năm ở phía trước. Và môn văn ở lớp 6 cũng là môn chính thức mở ra cấp độ cuối cùng của quá trình phát triển ngôn ngữ ở một người, đó là khả năng viết luận.

Vậy, ta dễ dàng thấy được cụm từ xưa như trái đất “Nghe-Nói-Đọc-Viết” thực ra là ám chỉ một quá trình hết sức tự nhiên mà qua đó một đứa trẻ sẽ phát triển ngôn ngữ từ đơn giản cho đến nâng cao.

Nếu nhìn từ góc độ thực tế sử dụng thì sao?

Trước khi đi sâu vào mổ xẻ chi tiết, ta nên phân định đâu là thông tin đầu vào và đâu là thông tin đầu ra. Từ đó, ta biết rằng kỹ năng ngôn ngữ về cơ bản được tách làm hai phía, như sơ đồ đơn giản bên dưới.

Cái tên đã nói lên tất cả, những thông tin mà từ chính tâm trí ta đi ra thì gọi là “output” trong khi những ý tưởng mà ta thu nhận từ các nguồn bên ngoài thì gọi là “input.” Đó là lý do Listening và Reading được gọi là những kỹ năng lĩnh hội (Receptive skills) còn Speaking và Writing thì được gọi là những kỹ năng phái sinh (Productive skills).

Nếu bạn nghĩ sâu hơn, bạn sẽ thấy vì sao học Speaking lại xứng đáng là môn cay đắng nhất. Trong 4 kỹ năng, chả có món nào cần đến mức sống còn cái gọi là “thời gian phản xạ.” Nghĩa là gì, bạn có thể vừa đọc vừa đoán hoặc vừa nghe vừa đoán ý. Cuộc trò chuyện vẫn có thể tiếp tục. Khi bạn viết liên tục không được thì bạn hoàn toàn có thể dừng lại dò google, chỉnh sửa tới lui, đọc thêm sách tham khảo hay thậm chí tập nói chuyện với mấy con mèo để lấy ý tưởng viết tiếp, như kiểu Murakami ấy. Trong khi đó, nói mà giữa chừng bạn đột ngột dừng lại quá 10 giây để tìm từ, chỉnh ngữ pháp hay chia thì là “xong phim.” Đó là điều tôi đang muốn nói. Đặc biệt trong việc luyện nói, tốc độ phản xạ với ý tưởng trong đầu là tất cả.

Dẫu vậy, một trong những vấn đề thường thấy nhất là chúng ta vẫn rất hay nhập nhằng quan niệm về đọc-hiểu và nói lưu loát. Đọc hiểu được không có nghĩa là sẽ nói lưu loát. Thực tế là hai kỹ năng trên còn cách nhau một khoảng rất, rất xa.

Đọc-HIỂU

Theo định nghĩa của từ điển Cambridge thì đọc hiểu (Comprehension) là:

“A test to find out how well students understand written or spoken English.”

Dịch ra comprehension là một cách để “test” xem bạn hiểu một đoạn hoặc một câu tiếng Anh đến cỡ nào.

Tôi lấy ví dụ một câu trong khúc mở đầu của cuốn The Selfish Gene:

Let me repeat and expand the rationale for the word 'selfish' in the title.

Cả câu này gần như không có từ nào chua ngoài chữ “rationale” (danh từ của rational, nghĩa là mức độ hợp lý) là có vẻ lạ lạ. Về nguyên tắc, việc không biết 1/14 chữ (7%) số từ trong một câu không phải là chuyện gì lớn nhưng khổ cái là chữ duy nhất không biết ở đây lại là một từ khóa (keyword) dẫn đến khả năng cả câu bạn chả hiểu gì là rất cao.

Chính do việc đọc hiểu_đọc để hiểu được ý_vốn dĩ đã là một việc chả dễ ăn gì nên 12 năm đi học cộng với vài năm đại học, một người sẽ chủ yếu được dạy để đọc hiểu là chính và kỹ năng đọc hiểu là một kỹ năng không thể thiếu trong tất cả các kỳ thi ngôn ngữ quốc tế.

Đấy là câu chuyện của “đọc hiểu” trong khi câu chuyện nói được lại là hoàn toàn khác. Thực ra, tương tự như đọc hiểu, “nói hiểu” về bản chất cũng như “đọc hiểu,” không cần nhiều từ, cũng chỉ cần biết tầm 20% số từ khóa là đủ để truyền đạt thông tin ở mức gọi là cơ bản, là hiểu được, hay ta còn gọi là nói bồi, là dùng “broken English” để nói chuyện với nhau. Bản thân việc nói bồi cũng đâu phải dễ. Tuy vậy kỹ thuật này đòi hỏi người nói phải là bậc thầy giao tiếp khi biết vận dụng thành thục một loại ngôn ngữ phổ biến khác chính là ngôn ngữ cơ thể để múa may quay cuồng kèm theo ngữ điệu được canh chỉnh phù hợp. Nói cách khác, anh không giỏi tiếng Anh thì anh phải là diễn viên múa.

Nhưng khổ cái, nói vậy thôi ai lại muốn nói bồi? Chúng ta bỏ cả núi thời gian và tiền của học tiếng Anh ai mà chả mong nói cho lưu loát, chứ còn sao nữa. Nói về chuyện lưu loát, liệu bạn có biết điều gì đã góp phần chính tạo ra những con đường gập ghềnh không mong muốn trong lúc bạn nói tiếng Anh không?

những con đường gập ghềnh

Sự thật là chúng ta hay nói giật cấp tám chính là vì chúng ta còn phải dịch từng chữ trong đầu rồi lắp lại, chưa kể thời gian ta bối rối chia thì. Nhưng mà đừng có lo, ai ban đầu học cũng phải trải qua giai đoạn này cả. Tôi tạm gọi đó là mức độ lưu loát số 1 (Mức độ cơ bản nhất hay còn gọi là mức nói được), nghĩa là bạn chỉ có thể lưu loát được khi chữ đó đứng một mình.

Trong khi đó, nếu một người có thể bắn tiếng Anh vèo vèo và lại còn ngắt nhịp rất chuẩn để người nghe có thể dễ dàng theo kịp như mấy người dẫn tài năng trong chương trình IELTS Face Off đêm trên VTV7 thì bạn nghĩ bí mật của họ là gì?

Thực ra, đó là vì họ đã nâng mức độ lưu loát của họ lên thành những cụm từ khóa, chứ không dừng lại ở mức độ biết nhiều từ khóa đơn lẻ như bạn và tôi.

Nói theo ngôn ngữ toán học, độ lưu loát sẽ tỉ lệ nghịch với số lần bạn phải để tâm vào cách nói khi rơi ra một ý tưởng.

Tuy vậy, nếu bạn để ý, bạn có thấy việc dạy ai đó cách nói thì khá dễ nhưng để giúp một người thực nói khá hơn (lưu loát và rành mạch hơn) là chuyện có vẻ vô cùng vất vả, nếu không muốn nói là vô vọng không?

Đó là lý do bạn hay nghe người ta bảo đâu có cần học nói, cứ cho nó đi Mỹ vài năm là nói được ngay vì kỹ năng speaking vốn là thứ đặc biệt khó để dạy. Vấn đề là, khi dạy speaking chúng ta sẽ chắc chắn đối mặt với một nghịch lý, cái mà tôi hay gọi là nghịch lý số 0.

nghịch lý số 0

Sự thật rằng, ý tưởng vốn không có tính ngôn ngữ, nó trừu tượng và bạn không thể cảm nhận được bằng các giác quan cơ bản. Ý tưởng thì không có đúng sai về ngữ pháp hay từ vựng, ý tưởng là ý tưởng. Một người có thể hình thành ý tưởng bằng cách nghĩ sâu hay “cảm nhận” về nó.

Nếu con người tiến hóa hơn loài vật ở khả năng dùng ngôn ngữ thì các bậc thần thánh (nếu có) cũng sẽ cao hơn loài người ở chính chỗ đó, họ bảo ngôn ngữ lỗi thời quá rồi (Họ “bắn” sóng Bluetooth cho lẹ, chíu chíu phát là hiểu ý nhau ngay. Kinh thật ấy!)

Tôi sẽ mượn hình ảnh thùng rượu gỗ sồi cho dễ hình dung, tưởng tượng tâm trí bạn là một thùng ủ rượu.

Trong đó, ý tưởng chính là nguyên liệu cơ bản nhất của quá trình chuyển hóa, tôi đang nói đến nước nguyên chất. Nếu tiếng Việt là rượu đế thì tiếng Mỹ hẳn sẽ là whiskey.

Bản thân con chữ là hoàn toàn vô nghĩa, chính quá trình cảm nhận và nghĩ về nó đã gán cho từ ngữ một ý nghĩa nào đó

Vậy, nghịch lý số 0 nằm ở đâu trong chu trình ngôn ngữ trên?

Nó nằm ở giai đoạn số 1 và số 2 trong chu trình luyện nói 3 giai đoạn. Nghịch lý số 0 có thể được phát biểu bằng lời như sau:

“Để truyền đạt một thứ phi ngôn ngữ (ý tưởng) ta lại buộc phải đi qua con đường ngôn ngữ.”

Do học bằng quá trình dịch thuần túy với sự hỗ trợ của từ điển được cho là quá chậm và người học thường bị vấp rất nhiều khi phải lắp chữ và nói ra. Chưa kể đến việc người học hầu như không thể tự nghĩ ra những cụm từ hay dùng trong văn nói hay tìm ra cách dịch phù hợp với văn hóa bản xứ để luyện tập dẫn đến việc luyện tập thiếu thực tế.

Do vậy, hơn bao giờ hết, người học cần những ý tưởng nói dồi dào và thực tế hơn từ phía người hướng dẫn. Nhưng khổ nỗi, con đường dẫn từ kho ý tưởng của người hướng dẫn đến với “cái thùng rượu” ý tưởng trong đầu mỗi người học thì lại phải đi qua cây cầu nghịch lý số 0 như đã nhắc đến ở trên.

Ba Bước Hoàn Hảo Để Luyện Nói

Ý thức rõ được sự tồn tại của nghịch lý số 0, CHUNKS đã tìm hiểu và đưa ra ý tưởng về một chu trình luyện nói hoàn hảo gồm 3 bước bên dưới:

1. Nghe – Tập trung nghe thông tin cần chuyển ý từ người dạy. Chú ý đến cả ngữ điệu và thần thái.

2. Cảm nhận – Cảm nhận thông tin vừa nghe được để hình thành ý tưởng nói, người học tuyệt đối không được nhớ thông tin bằng tiếng mẹ đẻ. (Nhiều học viên chưa làm được bước này)

3. Nhả ra – Với khả năng ngôn ngữ hiện tại của học viên, bạn sẽ có thể nhả ra một câu bằng tiếng Anh để thể hiện một ý tưởng. Chưa bàn đến độ chính xác tuyệt đối về mặt từ ngữ và ngữ pháp.

Sau ba bước trên, người dạy sẽ cân nhắc chỉnh sửa trên chính câu gốc của học viên để giúp họ tiến bộ và tăng tự tin.

Chúng ta đều biết rằng, cách nhanh và thuận lợi nhất để một người nắm được ý là nói với họ bằng tiếng mẹ đẻ của chính họ. Đừng nhầm lẫn, điều này cần hai bước, không phải một. Nghe và nghe hiểu là hai chuyện rất khác. Bước số 1 (Nghe) chỉ là điều kiện cần chứ không phải điều kiện đủ. Ở bước số 1, người học sẽ nghe một đoạn thông tin bất kỳ từ người dạy. Sau đó người học được mời gọi lắng đọng trong một khoảnh khắc rất ngắn để cảm nhận xem đoạn thông tin vừa rồi là ý gì. Đây là kỹ năng trọng tâm của bước số 2, tức là dùng những cảm nhận tinh tế để hiểu ra thông điệp.

Thú vị thay, có một kỹ thuật rất nổi tiếng mà giới học thuật ngôn ngữ đã và đang sử dụng để luyện nói từ mãi cuối những năm 50. Do vậy, sẽ là vô cùng thú vị nếu chúng ta có thể cùng xem xét kỹ thuật đó trong mối tương quan với quy trình 3 bước nêu trên của CHUNKS.

Kỹ Thuật Nói Đuổi

Và thứ mà tôi đang nói đến chính là kỹ thuật “nói đuổi” huyền thoại (Tiếng Anh là shadowing).

Bất kể bạn có từng nghe qua cụm từ “nói đuổi” hay là chưa nhưng chắc chắn một điều là trăm phần trăm bạn đã từng luyện tập bằng phương pháp này rất nhiều lần rồi. Nói láo xe cán.

Một trong những điểm lợi nhất mà một người có thể học được từ phương pháp này, đó chính là nhịp nói và cách luyến láy câu chữ. Hay nói gọn lại, cách luyện tập đặc biệt này giúp bạn để ý, làm theo để có cái cảm giác về cách người bản xứ họ thực nói trong thực tế.

Đứng về góc độ Speaking, tức là tập luyện để thực nói được, thì nếu ta tập shadowing sai cách, ta sẽ không thể tự mình nói ra mấy thứ đó trong tương lai dù đúng là ta có cảm giác về nhịp lẫn phát âm của ta thì có cải thiện rõ rệt.

Về nguyên lý, hai chu trình giống hệt nhau. Chúng đều giúp người học tự có thể nói ra được ý mình bằng tiếng Anh, nếu đúng là học viên đã có trải qua bước số hai ở giữa. Tức là họ đã có thể cảm nhận được ý tưởng trong thông tin gốc.

Dẫu biết vậy, đa số học viên trong tâm trí vẫn có xu hướng chọn con đường dễ dàng nhất hoặc một đường nối trực tiếp từ câu gốc đến câu họ sắp nói ra (Chu trình nét đứt màu xanh lá phía trên). Vì chả có gì quải hơn là phải tỉnh táo, dù là chỉ trong một khoảnh khắc, để cảm nhận được một ý tưởng. Nó trông vậy mà khó hơn nhiều đấy.

Vấn đề là, người học họ cũng chẳng biết mình đang học vẹt. Giả dụ, họ nghe một câu, họ cố nhớ và lặp lại y hệt những thứ vừa nghe càng nhanh càng tốt nhưng rồi họ cũng không hiểu lắm mình đang nói gì.

Thói Quen Của Forrest

Câu hỏi bây giờ là, okay, cứ cho là tôi tập theo 3 bước trên thì liệu tôi có thể có cho mình những thói quen xuất chúng kiểu như anh chàng tên Forrest Gump không? Thực sự ai chẳng mong mình có thể đánh bóng bàn giỏi như Forrest Gump hay đá giỏi như Lý Tiểu Long nhưng nếu bạn chỉ tập theo 3 bước trên thì rõ ràng vẫn chưa đủ. Bạn thiếu một bước phụ nhưng lại vô cùng hệ trọng, đó là bước tự luyện tập để hình thành thói quen vô thức.

Nếu tôi sắp xếp lại ba bước ở trên theo chiều dọc, bạn sẽ thấy nó có dạng của một số sáu hoàn chỉnh ngay khi tôi thêm vào bước kế tiếp.

Điều hay ho ở đây là nếu bạn tập luyện nói càng nhiều thì thời lượng từ lúc bạn bắt đầu triệu tập một ý niệm trong đầu đến khi bạn thực nhả ra âm thanh cụm từ đó sẽ càng thu hẹp lại. Hãy hình dung một vòng xoáy bất tận với hai cực tương ứng là tâm trí và cơ miệng của bạn. Vòng xoáy càng mạnh thì bán kính vòng tròn sẽ càng thu hẹp lại. Khi bạn luyện tập đến một số lần cụ thể, mọi thứ dường như sẽ hòa vào nhau. Đó là thời điểm mà cảm xúc và phản xạ của bạn bước chân vào vùng vô thức, và rồi thật bất ngờ, bạn đã có cho mình thứ gọi là thói quen rồi đấy.

Hiểu được những nguyên nhân gốc rễ của quá trình luyện nói, CHUNKS đã quyết định đưa ra 3 sự thay đổi sau đây về phương pháp dạy nói:

1. Tai-não-họng (Giúp học viên luyện nói tại chỗ)

2. Tiếng Anh cảm xúc (Giúp học viên nhớ bài lâu hơn)

3. Vi phân ngôn ngữ (giúp học viên phản xạ nhanh hơn)

I. TAI – NÃO – HỌNG

Phương pháp đầu tiên chính là việc hiện thực hóa ý tưởng 3 bước luyện tập thành một quy trình hoàn chỉnh mang tên
tai-não-họng như sơ đồ dưới đây để người học dễ hình dung.

Trung bình để nói một ngôn ngữ hoàn chỉnh chúng ta cần từ 4,000 đến 10,000 từ. Vậy để có được sự lưu loát nhất định bằng cách cày nát 10 từ trong vòng 1 tháng như cách tiếp cận thông thường của những người học võ, hóa ra một người chắc sẽ cần hơn 83 năm!

Sự khác biệt lớn nhất giữa học ngôn ngữ và học võ thuật là cách ghi nhớ thông tin để người học hình thành phản xạ. Nói về điều này, trong khi võ thuật đã và đang dùng trí nhớ vận động thì ngôn ngữ lại chủ yếu hứng thú với trí nhớ cảm xúc. Vì đầu ra của võ thuật là một hành động vật lý còn ngôn ngữ, mà cụ thể là speaking, lại đòi hỏi việc truyền một thông điệp âm thanh dưới dạng một lời nói.

Cốt lõi của vấn đề là chúng ta ai cũng muốn học thứ gì đó thật chắc để có thể lưu loát được nhưng lại không muốn học một cách chậm chạp. Trong một nỗ lực để cân bằng hóa hai yếu tố trên, thay vì dùng trí nhớ vận động, chúng ta sẽ tập cho mình dùng trí nhớ cảm xúc để giảm thời gian luyện tập lại nhưng cũng không phải quá nhanh đến mức chóng mặt như phương pháp Callan huyền thoại, song song với đó vẫn là quá trình nạp từ và cụm từ mới mỗi ngày.

II. TIẾNG ANH CẢM XÚC

Biết được tầm quan trọng của việc ghi nhớ thông tin trong quá trình luyện tập nói, CHUNKS đã giới thiệu phương pháp số 2 của mình, còn được gọi là tiếng Anh cảm xúc.

Một thí nghiệm quan trọng của Elizabeth Kensinger và Suzanne Corkin năm 2003 đã chỉ ra rằng những từ ngữ có cảm xúc sẽ làm gia tăng mức độ sống động của những thông tin được nhớ, cả về chất lượng lẫn số lượng, so với những từ trung tính.

Nói về trí nhớ cảm xúc, chúng ta không thể không nói đến kỹ thuật diễn xuất nổi tiếng của một diễn viên sân khấu kịch người Nga tên Stanislavski.

Là một người tin rằng bản thân con người bạn thú vị hơn cả trăm lần so với thứ tốt nhất mà bạn có thể diễn, Stanislavski cho rằng tất cả những gì bạn cần để nhớ thoại tốt như một diễn viên hạng A là có được những hiểu biết cơ bản về cảm xúc con người. Để tôi nói cách khác thử, phương pháp của ông không yêu cầu bạn “diễn” mà thay vào đó bạn hãy:

“Mang đời sống vào những tình huống và hành động tưởng tượng cho đến khi bạn hoàn toàn hài lòng với ý niệm của bạn về sự thật.”

Tóm lại, chúng tôi đã tích hợp điều này vào bước thứ hai trong chu trình 3 bước để giúp học viên thực sự cảm nhận được cảm xúc mà họ muốn truyền tải trong một thông điệp bằng cách giơ ngón tay cái lên để xác nhận mỗi khi nghe xong.

Đó là lý do vì sao trên 90% câu thoại trong chương trình đã được thiết kế đặc biệt nhằm mang lại một mức độ cảm xúc nhất định.

Sẽ là thiếu xót nếu nhắc đến trí nhớ cảm xúc mà lại không đả động gì đến những kỹ thuật luyện trí nhớ truyền thống như phương pháp 7-3-2-1 theo một nghiên cứu của Hermann Ebbinghaus hay mega-drilling, cái mà tôi hay gọi là phương pháp 30 lần.

Tại sao tôi lại lôi chuyện trí nhớ ra để nói? Vì dù bạn thích hay không, nó vẫn liên quan mật thiết đến những ai học ngôn ngữ nói chung.

Tôi sẽ xem xét vấn đề ở một khía cạnh khác. Tôi chỉ biết nếu bạn cần nhẩm một cụm 3 lần để có thể nhớ ra nghĩa của từ đó ở lần kế tiếp bạn tình cờ trông thấy nó trên một tờ Tuoi Tre news thì khả năng cao bạn cần lặp lại nhiều hơn 3 lần rất rất nhiều để có thể rớt ra được từ đó khi nói. Không chừng phải là 30 lần thật!

III. VI PHÂN NGÔN NGỮ

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, tôi sẽ nói về phương pháp có nguồn gốc toán học mà chính bản thân tôi đã áp dụng cho rất nhiều thứ trong cuộc sống. Trong giới hạn của lĩnh vực ngôn ngữ, tôi sẽ gọi nó là vi phân ngôn ngữ.

Tôi muốn đi sâu hơn chút vào chữ “vi phân,” vốn rõ ràng là một từ mượn. Trong tiếng Hán Việt, chữ “vi” nghĩa là nhỏ còn “phân” là từng phần.

Tuy vậy, tôi đang nói về vi phân ở khía cạnh ngôn ngữ. Vốn đã là một truyền thống của khoa học tự nhiên, khi các nhà khoa học gặp phải một vấn đề hóc búa to lớn, họ thường sẽ chia nhỏ nó xuống để tìm lời giải bằng cách xác định các nguyên nhân gốc rễ. Cũng tương tự, khi ta không thể nói trơn tru cả một ý dài 3 cụm, lý do thường là do ta chưa thể nói trơn tru ít nhất là một cụm trong số đó.

Ví dụ, tôi muốn nói ý này bằng tiếng Mỹ:

Nếu ta chia nhỏ thông điệp trên, ta sẽ thấy nó được tạo thành từ 5 cụm nhỏ:

a. Tôi nói anh nghe
b. Đây là lần đầu tiên…
c. Đặt chân lên…
d. Đất Mỹ
e. Hiểu hông?

Vấn đề là, để một cụm từ thực sự trở thành của bạn, bạn phải đưa nó vào những tình huống khác nhau để luyện tập. Về lâu về dài bạn sẽ dần có được cảm giác với những âm thanh đó chứ không phải mặt chữ của nó.

Chúng ta hay vô tình hiểu nhầm rằng khi mắt ta nhận ra một cụm từ trong sách thì ta sẽ tự động dùng được nó trong lúc nói. Không hề, nó không phải kiểu vậy. Bạn muốn nói được thì điều kiện cần là tai bạn phải nghe ra cụm đó và họng bạn có khả năng tạo ra lại âm thanh đó còn điều kiện đủ là não bạn phải chịu nhả ra cụm đó đúng vào lúc bạn cần. Do vậy, cái bạn cần luyện tập là tai và họng chứ không phải mắt.

Đừng hiểu nhầm ý, tôi không bảo là bạn phải nói chính xác một cụm từ cố định cụ thể mỗi khi đầu bạn nghĩ ra một ý tưởng nào đó. Thế thì chán đời lắm, nhỉ? Ngược lại, bạn có thể thoải mái dùng bất cứ cụm từ nào bạn thích, miễn là nó truyền tải đâu đó đúng ý tưởng gốc ban đầu.

Nói tóm lại, trước khi nói được một câu, bạn cần phải biết thật nhiều cụm và trước khi bạn nói được một cụm, bạn sẽ cần học biết vô vàn từ khóa. Nếu mọi thứ thuận lợi, một khi bạn đã nạp cho mình được nhiều câu đơn, bạn sẽ có khả năng xử lý những câu ghép và cả những ý tưởng dài dòng và phức tạp hơn.

Nói đi thì cũng phải nói lại, nãy giờ tôi không ngừng nói về cái gọi là cụm, nhưng bạn có bao giờ tự hỏi “Mà cụm là cái gì?” không?

Mà cụm là cái gì?

Trên thực tế, vài người bảo cụm là thành ngữ, vài người tin rằng cụm là một mớ những từ lóng, một ai đó khác lại bảo nó đơn giản là mấy cấu trúc câu hay thậm chí còn có người cho cụm vào nhóm tục ngữ nữa. Phải, những thứ kể trên đều có thể tính là cụm nhưng cụm thì không bắt buộc là những thứ đó. Cụm là một thứ gì đó khác hơn cả như vậy nữa.

Tương đối mà nói, tục ngữ đúng nghĩa nên dài hơn thành ngữ và thành ngữ thường sẽ dài hơn từ lóng. Về ngữ nghĩa, bất kể đó là tục ngữ, thành ngữ hay từ lóng, người nghe đều luôn khó có thể đoán được ý nghĩa thật sự hay nghĩa bóng của nó nếu họ chỉ nhìn vào nghĩa đen của từng từ riêng lẻ.

“Đi bán muối” là một ví dụ tốt cho thành ngữ. Thay vì bảo Bà Kim vừa đi bán muối tối hôm bữa, bạn lại bảo bà ấy vừa đi bán mắm hay đi mua muối thì mấy thằng đệ chắc chắn sẽ nhìn bạn như kiểu bạn đang nói tiếng Miên.

Vấn đề là không phải bạn không biết đủ từ, mà là bạn không biết nhiều những cách dùng từ thông dụng trong văn nói. Sự thật thì có vài chữ đặc biệt, vì một lý do nào đó, khá hay đi chung với nhau và chúng sẽ dần tạo thành một thứ gọi là cụm. Nếu câu dưới đây bạn không gọi là “cụm” thì là gì?

Vậy vì sao ý niệm về “cụm” lại trở nên quá quan trọng như vậy? Đơn giản vì nó gắn liền với ý niệm về sự lưu loát, không phân biệt đó là nghe-nói hay là đọc-viết, có thể nói vậy. Nói cách khác, chúng như những khái niệm không thể tách rời nhau. Nghĩa là gì? Nghĩa là khi bạn học biết thật nhiều cụm, chẳng những bạn nói lưu loát và rành mạch hơn rất nhiều mà bạn nghe sẽ nắm ý dễ dàng hơn, đọc sẽ nhanh hơn và cả viết sẽ mượt mà hơn.

 Do vậy, tôi sẽ khép lại bài phân tích dài dòng này bằng việc lý giải cho một hiện tượng thú vị gọi là “nghe theo cụm.”Vậy vì sao ý niệm về “cụm” lại trở nên quá quan trọng như vậy? Đơn giản vì nó gắn liền với ý niệm về sự lưu loát, không phân biệt đó là nghe-nói hay là đọc-viết, có thể nói vậy. Nói cách khác, chúng như những khái niệm không thể tách rời nhau. Nghĩa là gì? Nghĩa là khi bạn học biết thật nhiều cụm, chẳng những bạn nói lưu loát và rành mạch hơn rất nhiều mà bạn nghe sẽ nắm ý dễ dàng hơn, đọc sẽ nhanh hơn và cả viết sẽ mượt mà hơn.

Do vậy, tôi sẽ khép lại bài phân tích dài dòng này bằng việc lý giải cho một hiện tượng thú vị gọi là “nghe theo cụm.”

NGHE THEO CỤM

Công bằng mà nói, bạn nghe hiểu tốt thì bạn sẽ có thể đọc hiểu giỏi. Nhưng nếu bạn muốn nói giỏi đúng nghĩa thì bạn buộc phải có thể nghe và lặp lại được tất tần tật những gì bạn vừa nghe. Tôi khá chắc về điều này.

Câu hỏi là liệu thực tế tai người có thực sự đủ thính để nghe 100% số từ trong giao tiếp hàng ngày với tốc độ nói thực tế của người bản xứ không. Tôi nói luôn nhé, không.

Vậy bí mật của những kẻ nghe giỏi ngoài kia là gì? Đoán. Phải, bạn nghe chuẩn rồi đấy, đúng nghĩa là họ đoán thôi nhưng họ đoán cực xịn nhé. Vấn đề là khi được hỏi, những người nghe tốt này sẽ luôn tưởng họ thật sự nghe được toàn bộ, từng chữ một, nên khi cho bạn lời khuyên, họ sẽ khuyến khích bạn phải khổ sở cố nghe cho ra từng chữ, theo đúng nghĩa đen, cứ như là đáng lẽ bạn đã có thể làm tốt hơn nhiều. Và đó là nơi thảm họa bắt đầu.

 “Tui nghe thì hiểu hết đấy nhưng hài cái là nói lại không được!” Bạn có nghe nhiều nhiều những câu “hồ than thở” như này chưa? Tôi dạy Speaking nên nghe riết đến phát ngấy. Tất cả chỉ là do bạn chưa biết nghe theo cụm. Chỉ có vậy thôi.

Vậy nghe theo cụm là cái quái gì mà nãy giờ tôi cứ nói quài???

Là bạn nghe một vài từ nhưng bạn loay hoay đoán ra được cả một cụm. Khi bạn quen rồi, thậm chí bạn có thể nghe một vài từ khóa để đoán cả một câu là chuyện hết sức bình thường.

Nhưng vì sao chúng ta thường nghe theo cụm dở ẹt? Vì nó thường không nằm trong chương trình dạy nghe. Nói cách khác, ta có được học bao giờ đâu mà giỏi. Cơ bản, chúng ta được tiếp xúc với hai kiểu nghe ở chương trình phổ thông: Điền vào chỗ trống và nghe hiểu nắm ý để trả lời đúng sai cho những câu hỏi bên dưới. Đúng là kỹ năng phía sau có giúp ta rất nhiều trong cuộc sống thực sau này nhưng, thành thật mà nói, vẫn còn quá xa vời để giúp ta nghe và nói được theo cụm.

Nếu bạn đã bõ công đọc đến đây thì hãy nhớ rằng, không như Beethoven hay Van Gogh, tai bạn chả có vấn đề gì cả và cũng không phải người ta nghe thần thánh gì hơn bạn, chỉ là họ biết nhiều cụm từ hơn mà thôi. Giờ bạn biết phải làm gì rồi đấy. Thế nhé, tôi hi vọng bài viết này sẽ giúp được gì đó cho bạn.

Học Để Nói Chứ Không Phải Học Để Biết Cách Nói