Đọc - hiểu
Theo định nghĩa của từ điển Cambridge thì Comprehension là:
A test to find out how well students understand written or spoken English.
Dịch ra comprehension là một cách để “test” xem bạn hiểu một đoạn hoặc một câu tiếng Anh đến cỡ nào.
Tôi lấy ví dụ một câu trong khúc mở đầu của cuốn The Selfish Gene:
Let me repeat and expand the rationale for the word 'selfish' in the title.
Cả câu này gần như không có từ nào chua ngoài chữ “rationale” (danh từ của rational, nghĩa là mức độ hợp lý) là có vẻ lạ lạ. Về nguyên tắc, việc không biết 1/14 chữ (7% ) số từ trong một câu không phải là chuyện gì lớn nhưng khổ cái là chữ duy nhất không biết ở đây lại là một từ khóa (keyword) dẫn đến khả năng cả câu chả hiểu gì là rất cao.
Một ví dụ khác, tôi chọn đại một câu ở đoạn giữa của cuốn Fooled by Randomness của Nassim Taleb mà tôi đang thích thú ngấu nghiến, nó như này:
What he meant by that statement was that the "noise" was mean reverting, and would likely be offset by "noise" in the opposite direction.
Đọc xong lú luôn, cảm giác kiểu tôi là ai và đây là đâu như kiểu vừa đọc triết Hegel. Và hiển nhiên câu này cũng được đánh giá là một câu khá chua để hiểu, để “comprehend” được. Vì sao?
Vì một trong những từ khóa của câu này vốn là một từ gốc pháp “reverting” lại đang là một từ ở cấp độ C nghĩa là một từ không nhiều người có thể hiểu nghĩa, chỉ có đoán. Chưa kể, câu này chứa hai cụm từ hay sử dụng và cần hiểu theo cụm.
a.What he meant by… was… (Ý ảnh khi nói… là…)
b.In the opposite direction (Theo hướng ngược lại)
Chính do việc đọc hiểu_đọc để hiểu được ý_vốn dĩ đã là một việc chả dễ ăn gì nên 12 năm đi học cộng với vài năm đại học, một người sẽ chủ yếu được dạy để đọc hiểu là chính và kỹ năng đọc hiểu là một kỹ năng không thể thiếu trong tất cả các kỳ thi ngôn ngữ quốc tế. Luyện mãi cũng phải giỏi lên, phải công nhận là người Việt chúng ta thế hệ 8X, 9X hay gần nhất là gen Z đọc hiểu rất siêu.
Trong quá trình đi làm ngày nay, việc đọc hiểu tài liệu chuyên ngành (thường viết bằng tiếng Anh) thì quan trọng khỏi phải bàn. Thế nhưng trong khoảng 20 năm đổ lại, nhất là sau sự cố máy tính Y2K năm 2000 cùng sự đổ bộ của internet và wifi, thế giới đã bị ủi phẳng ra nhiều, đồng nghĩa với việc một anh châu Á giờ đây có thể làm việc ở mọi nơi nếu anh ta có thể hợp tác tốt, mà hợp tác tốt nghĩa là không chỉ có cắm đầu cày tài liệu và đọc hiểu email, mà khi cần là phải mở miệng nói chuyện được, đúng ra là phải tranh luận được, nói đùa, gọi điện và đi nhậu được.
Nhưng nếu chúng ta để ý ta sẽ thấy rằng, việc đọc hiểu đã chua còn việc nói được thậm chí còn khó hơn việc đọc hiểu nhiều lần.
Khi đọc hiểu, nếu ta là một người biết khá nhiều từ vựng đơn lẻ, biết một vài thành ngữ thông dụng, biết quan sát và cảm nhận ngữ điệu người nói, thì cho dù thậm chí là không giỏi về thì hay ngữ pháp lắm ta vẫn hoàn toàn có thể “đoán” ý người đối diện, tức là nghe ổn và đọc hiểu tốt. Điều này giải thích cho rất nhiều cảnh không biết nhiều tiếng Anh hay chỉ dùng tiếng Anh bồi nhưng vẫn sống sót và hòa nhập tốt khi đi nước ngoài.
Hiện nay, một câu nói trung bình dài từ 15 đến 20 từ, nếu ta xem từ khóa lần lượt là động từ, danh từ và tính từ trong câu thì chỉ có đâu đó khoảng 15%-20% số từ trong một câu mà ta gọi là nhất quyết phải biết để có thể đoán nghĩa cả câu. Thật sự không nhiều.

Đấy là câu chuyện của “đọc hiểu”, câu chuyện nói được lại là hoàn toàn khác. Thực ra, tương tự như đọc hiểu, “nói hiểu” về bản chất cũng như “đọc hiểu”, không cần nhiều từ, cũng chỉ cần biết tầm 20% số từ khóa là đủ để truyền đạt thông tin ở mức gọi là cơ bản, là hiểu được. Nhưng đương nhiên đòi hỏi người nói phải là bậc thầy giao tiếp khi biết vận dụng thành thục một loại ngôn ngữ phổ biến khác chính là ngôn ngữ cơ thể để múa may quay cuồng kèm theo ngữ điệu được canh chỉnh phù hợp. Nói cách khác, anh không giỏi tiếng Anh thì anh phải là diễn viên múa.

Đấy là chuyện nói sao cho đủ hiểu, còn để nói cho hay, cho tròn và đủ ý thì rất có thể một người phải biết trên 90% số từ cần nói trong câu.
Ví dụ, để truyền đạt ý tưởng sau: Đây là lần đầu tiên tôi đặt chân lên đất Mỹ.

Đáp án chuẩn của bộ sẽ là: This is the first time I’ve set foot on American soil.
Để làm được điều đó, người nói chẳng những phải biết mọi từ khóa mà còn phải biết và rành cụm hay dùng để nói cho đúng và trơn tru thay vì ghép từng chữ một.
Trong câu trên, cụm từ cần biết và trơn tru là “This is the first time…” (bạn nào muốn giỏi cả tense thì học luôn cụm “This is the first time I’ve…”) và cụm “set foot on American soil”.
Người đã rành rọt hai cụm này sẽ xử lý câu này bằng hai nhát kiếm đơn giản như trên, xẹt xẹt cái là xong, gọn gàng, đẹp đẽ, trơn tru và ngắt nhịp đúng điệu.
Tóm lại, điểm khác biệt cơ bản và lớn nhất giữa quá trình luyện đọc hiểu (Reading) và luyện nói (Speaking) là khả năng thực luyện tập mở miệng nói theo cụm vô số lần để tạo thói quen vô thức, chứ không chỉ là việc thuần biết nghĩa nhiều từ vựng và cụm từ như một cuốn từ điển di động.
Thực ra, chả có gì bí mật ở đây, bạn muốn luyện nghe cho trơn tru hay đọc cho trơn tru cũng phải luyện y hệt như để nói trơn tru, là luyện nghe theo cụm và luyện đọc theo cụm chứ không phải nghe hay đọc theo kiểu ghép từng chữ kiểu word by word. Chỉ khác là bạn chỉ mới nghe hay đọc okay nhưng không trơn tru thì chả ai biết, còn nói không trơn tru là sẽ lòi ra ngay giữa bàn họp lãnh đạo mỗi sáng thứ hai, đúng chứ? Nhưng chuyện đó ta sẽ dành để lúc khác sẽ bàn.

