Thói quen của Forrest
Bạn có biết vì sao Forrest Gump trong bộ phim cùng tên từ một binh nhì không biết cầm cây vợt bóng bàn thế nào bỗng trở nên một “vợt thủ” ngôi sao được tuyển chọn đại diện đi đánh giao hữu với chủ tịch Mao Trạch Đông không? Đương nhiên là trong phim Mỹ thôi.
Rất có thể do anh ta có khả năng tập trung cao độ vào việc tập luyện như điên bất kỳ thứ gì hoặc là vì anh ta đã dám kiên định đến cùng với đam mê của mình hay là không chừng anh ta đang giấu đầu giường cuốn 7 thói quen hiệu quả lừng lẫy của Stephen Covey cũng nên, … vân vân và mây mây.
Bạn tưởng tôi sắp nói vậy, đúng không?

Chuẩn luôn, tôi sắp nói vậy đấy. Vì còn thế nào được nữa. Nó là sự thật mà sự thật trần trụi thì không gợi cảm như ta vẫn nghĩ đâu. Ngược lại, nó thường sẽ chán như một con gián.
Trong vô vàn ý kiến khen ngợi thì một lần nọ tôi hiếm hoi đọc được một ý kiến thú vị cho rằng Forrest Gump thực sự không hề hạnh phúc gì cả đâu. Vì anh ta, theo quan niệm triết học, không thể hiểu được hạnh phúc thật sự là gì. Cách nghĩ của Forrest cũng đơn giản như cách một đứa trẻ nhìn về một cây kẹo mút vậy. Forrest chỉ là một gã khờ đáng yêu và từng bị từ chối nhập học trường công vì IQ75 của mình.
Dù sao đi nữa, hiểu được hạnh phúc là gì cũng nào chắc sẽ có được hạnh phúc. Phải chăng đó là cái giá tất yếu phải trả cho những món quà mà họ đã được trao ban ở đời. Tôi sẽ để nó lại cho mỗi người tự cảm nhận.
Trong giới hạn bài viết này tôi chỉ muốn có đôi lời về khía cạnh bản chất của một thói quen. Khi bỏ qua toàn bộ những lý thuyết sáo rỗng cùng những câu chuyện truyền cảm hứng “chuẩn như Lê Duẩn” trong mấy sách self-help, ở một góc độ nào đó, việc chăm chỉ tập luyện ngày đêm một kỹ năng có lẽ chỉ có thể bắt gặp ở một kẻ điên mà thôi, một kẻ có gan (hoặc không có não) để đi ngược lại với tất tần tật những lẽ thường của xã hội. Đó có thể là một gã khờ như Forrest hoặc ở một kẻ thông minh điên cuồng nào đó ngoài kia với một tham vọng lớn thực sự. Bạn còn nhớ Lý Tiểu Long chứ? Ai lại bảo ánh mắt ấy là ánh mắt của một người có đầu óc tỉnh táo bao giờ. Đó là ánh mắt của một Beethoven trong giới võ thuật.

Về bản chất, thói quen là một cái thói ta cố làm riết mà thành ra quen, và khi đã quen thì không cần cố nữa.
Okay, tôi hiểu rồi, nhưng cố trong bao lâu?
Vào năm một nghìn chín trăm hồi đó (đùa chứ vào thập niên 60), một bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ tên Maxwell Maltz trong quá trình đoạn chi các bệnh nhân đã quan sát được một hiện tượng kỳ thú rằng hầu như các bệnh nhân của ông cần khoảng 21 ngày để quen với những thói quen mới khi họ không đủ các chi. Vậy nên các thanh niên bị bồ đá đừng có ráng mà buồn đến ngày thứ 22.
Trong trường hợp bạn không tin vào giai thoại này, thì tôi có một câu trả lời khác cho bạn. Vấn đề ở đây là Maxwell cam đoan rằng ông đã có thêm chữ “tối thiểu” vào trước cụm “21 ngày” nhưng mấy guru “phát triển bản thân”, nhất là Brian Tracy, thì đã bằng cách nào đó lờ đi chi tiết này.
Theo một nghiên cứu mới nhất được đăng trên tạp chí British Journal, nói tóm lại, trung bình một người sẽ cần khoảng 2 tháng để hình thành một thói quen mới. Thực ra chả có một con số nào là đúng cho tất cả mọi người khi nói về chuyện thói quen cả. Chính xác là nó sẽ dao động từ 18 ngày đến 254 ngày. Tức là thời gian để một thói quen thật sự hình thành có khi cũng lâu như chờ cho một đứa trẻ ra đời vậy, gần 9 tháng trời!
“On average, it takes two months before a new behavior becomes automatic, 66 days to be precise.”
Nhìn chung, nếu bị hỏi hình thành một thói quen dễ hay là khó? Tôi sẽ bảo là cả hai.
Khúc đầu và cuối sẽ khá đơn giản nhưng càng vào đoạn giữa càng “khó nuốt” và đó cũng chính là nơi mà những chuyện rối não bắt đầu.

Thế ngay từ đầu, vì sao phá thói quen cũ lại chua hơn cả giấm thế kia?
Còn vì sao nữa? Vì thói quen cũ nó sướng theo đúng nghĩa đen mà cái hoạt động gì liên quan đến khoái lạc thì đều đặc biệt khó bẻ gãy.
Trong bài “3 bước để luyện nói”, tôi đã trình bài cụ thể về những bước cơ bản để một học viên luyện nói được hiệu quả. Đó là nhận thông tin, cảm nhận nó và cuối cùng là nhả ra thông tin đó bằng tiếng Anh. Bạn có thấy thiếu thiếu gì không?

Thực tế thì nếu bạn chỉ nhả ra cụm thông tin đó mỗi một lần, khả năng cao là lần sau gặp lại ý tưởng đó bạn sẽ không thể nhớ ra cụm từ đó để nói. Điều đó có nghĩa là bước số 3 chưa phải là đích đến thực sự và ba bước được nhắc đến trong biểu đồ trên chỉ hoạt động như một bước đệm mà thôi. Bạn cần phải luyện tập vô số lần để những cụm từ nhả ra ở khâu số ba có thể thực sự trở thành thói quen của bạn.
Hay nói cách khác, chính việc luyện tập sẽ làm cho những cụm từ đó thật sự là của bạn. May mắn thay, bạn hoàn toàn có thể tự luyện tập bước mở rộng này, cái mà tôi hay gọi là bước số 3+, ở nhà.
Điều hay ho ở đây là nếu bạn tập luyện nói càng nhiều thì thời lượng từ lúc bạn bắt đầu triệu tập một ý niệm trong đầu đến khi bạn thực nhả ra âm thanh cụm từ đó sẽ càng thu hẹp lại. Hãy hình dung một vòng xoáy bất tận với hai cực tương ứng là tâm trí và cơ miệng của bạn. Vòng xoáy càng mạnh thì bán kính vòng tròn sẽ càng thu hẹp lại. Khi bạn luyệ tập đến một số lần cụ thể, mọi thứ dường như sẽ hòa vào nhau. Đó là thời điểm mà cảm xúc và phản xạ của bạn bước chân vào vùng vô thức, và rồi thật bất ngờ, bạn đã có cho mình thứ gọi là thói quen rồi đấy.
Nếu tôi sắp xếp lại ba bước ở trên theo chiều dọc, bạn sẽ thấy nó có dạng của một số sáu hoàn chỉnh ngay khi tôi thêm vào bước kế tiếp.

Khi bạn bắt đầu luyện tập, vùng xoáy sẽ bắt đầu quay và tạo thành một vùng xanh như trên hình. Nếu bạn có thể luyện tập quy trình nói ra một cụm từ, cảm nhận nó sau đó nhả nó ra lại rồi cứ thế mà làm vài lần một ngày, thời gian phản xạ của bạn sẽ sớm được cải thiện. Ở một tốc độ phản xạ nào đó, tôi có thể kết luận rằng bạn đã có thể nói một cụm từ cụ thể nào đó như người bản xứ. Tương tự như vậy, để hình thành một thói quen nói tổng quát, bạn cần làm hệt như thế với tất cả những cụm từ mà bạn mong muốn lưu loát.



