CHUNKS THEORY
LÝ THUYẾT CHUNKS
Lời tựa: Lý thuyết CHUNKS là một nỗ lực thống nhất cách tư duy của CHUNKS nhằm phân tích và tổng hợp liên tục một loạt những vấn đề tương tự quan sát được trải dài ở các lĩnh vực khác nhau và rồi đi đến cùng một kiểu tiếp cận nhằm tìm ra một bộ giải pháp chung.
Mục đích cuối cùng của CHUNKS trong việc sử dụng Lý Thuyết CHUNKS là để góp phần quan sát tìm hiểu và mổ xẻ phân tích sâu các hiện tượng lạ và khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ nghe/nói với hi vọng sớm tìm ra nguyên nhân cốt lõi, từ đó để ra được một giải pháp mang tính thực tiễn giúp cho việc thực hành phản xạ ngôn ngữ hiệu quả hơn, nhanh hơn và vui hơn so với đa phần các cách tiếp cận truyền thống hiện nay trên thị trường app ngôn ngữ.

Quá trình 3 bước luyện nói ngoại ngữ bằng giải pháp xRE (xRE-Speaking)
Mục đích của NÓI là thể hiện đúng ý tưởng của bản thân, mục đích của NGHE là nghe đúng ý tưởng người nói. Ý tưởng này không có tính ngôn ngữ và được gọi là Mentalese (Ý tưởng xuất hiện lần đầu vào những năm 1970 bởi Jerry Fodor khi ông gọi nó là Language of Thought Hypothesis, sau đó được Steven Pinker đặt tên là “Mentalese” trong cuốn Language Instinct 1994)
Trong chuỗi chương trình xRE ở học phần Speaking, người học sẽ được Chunker yêu cầu làm theo chu trình 3 bước cố định sau:
Bước 1: Nghe âm thanh tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) Lưu ý phải kiên nhẫn và bình tĩnh nghe đến âm cuối cùng.
Bước 2: Nắm thật rõ được ý hay “mentalese” từ âm thanh vừa nghe, không nắm câu chữ tiếng Việt. Nói cách khác, hãy nắm “mentalese” không nắm văn bản hay text. (Nguyễn T.T. Hoa 1999/Miller law 1956/Sweller 1988)
Bước 3: Từ ý tưởng “mentalese” vừa nghe nói ra âm thanh của ngôn ngữ đang học [Ứng dụng chu trình điều trị âm thanh FASTx bên dưới nếu gặp phải những vấn đề về âm thanh tạo ra]
CHU TRÌNH ĐIỀU TRỊ ÂM THANH - FASTx [Sound therapy]
Khi VOICE CLONING TECHNOLOGY hòa cùng CHUNKS THEORY


Tai nghe âm thanh A không nhất thiết nhận thức mình vừa nghe âm thanh A (McGurk effect 1976)
Nhận thức rõ mình vừa nghe âm thanh A có thể thực dùng cơ miệng/lưỡi kết hợp hơi từ phổi và cơ hoành nói ra được âm thanh A (Liberman 1967 / khả năng kiểm soát bản thân, thông minh âm nhạc)
Quy trình cụ thể để thiết kế âm thanh điều trị (Âm thanh A):
A. Tần số âm thanh cá nhân (Hình thức âm thanh A)
Nghe vô thức âm thanh A của chính mình nhiều lần (> số lần nghe sai) thì mới nói ra vô thức được âm thanh A của chính mình. Không hiệu quả nếu nghe vô thức âm thanh A’ của người khác (Voice cloning/COSS by CHUNKS)
B. Nội dung âm thanh cá nhân (Nội dung âm thanh A)
- Âm thanh A có thể được thiết kế để test về logic cơ bản UG/ngữ pháp (Chomsky/Steven Pinker 1994) = tròn
- Âm thanh A có thể được thiết kế trước để test về cảm giác âm thanh tự nhiên của một từ (Prodouble experience by CHUNKS 2023) = tam giác
- Âm thanh A có thể được thiết kế trước để test về cách cắt chính xác cụm và nhịp cắt để cải thiện logic trong lúc giải thích (Lexical chunking by Michael Lewis 1993/Cognitive load theory by Sweller 1988/Feynman technique 1964…) = vuông
- Âm thanh A có thể được thiết kế trước để test về cách ra âm thanh của một cụm/idiom/collocation và cả ngữ điệu câu (Prosody phonology by Selkirk 1984/Prodouble experience by CHUNKS 2023) = mây
Lưu ý:
- Nghe âm thanh A nói âm thanh B: Đây là điều không thể, nhận thức rõ mình nghe âm thanh A thì sẽ không thể “cố tình” nói ra âm thanh B (Trong chủ nghĩa tri thức Socrate Socratic intellectualism được đề xướng bởi chính triết gia vĩ đại Socrates và được phát biểu rằng: “humans cannot willingly do wrong.”)
- Nhận thức âm thanh A, không thể nói hoặc tạo ra âm thanh A’: Trong trường hợp quá khó khăn để vượt qua vùng tự xác định âm thanh của bản thân (self-identity) thì hãy thử dùng một vài tip để đánh lạc hướng bản thân và giảm tải cho bộ não (Facial Expression and cognitive load by Glenberg 2008 and McNeil 1992)
CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG
11 lý thuyết nền tảng về ngôn ngữ đã tác động lớn đến CHUNKS THEORY
Phân loại | Tác giả | Những kiến thức nền tảng |
|---|---|---|
Steven Pinker (1994) | Phần mềm (Mentalese): Mentalese / Universal Grammar / FOXP2 linguistic disorder / Articulation skill / Feynman technique | |
Liberman (1967) Barsalou (1999) McGurk (1976) Sweller (1988) | Phần cứng (Motor theory) Breathing technique / lipsync / Tongue twister / Facial expression & cognitive load / McGurk effect / Gesture-speed connection | |
Michael Lewis (1993) Sweller (1988) Miller (1956) | Cách ngắt nhịp (Lexical chunking): Lexical approach / Cognitive load theory / “Magical No.7 +/- 2” | |
Elisabeth Selkirk (1984) | Âm vị học ngữ điệu (Prosodic phonology) Prosodic hierarchy / prosody-syntax mapping / phonetic reduction / Chunks of Shadowing Sound technique (COSS) / Vietnamese intonation |
Một vài insight ngôn ngữ thú vị từ nhà CHUNKS [CHUNKS LÝ]
Giáo sư tâm lý học Steven Pinker của Đại Học Harvard đã từng lập luận rằng ngôn ngữ là một bản năng bẩm sinh của con người, không phải một kỹ năng đơn thuần mà chúng ta học được từ đầu. Ông dựa vào những nghiên cứu từ ngôn ngữ học, tâm lý học nhận thức và khoa học thần kinh để chứng minh rằng khả năng học và sử dụng ngôn ngữ là một phần tự nhiên của bộ não con người. Ông cho rằng ngôn ngữ không phải là sản phẩm của văn hóa, mà là kết quả của tiến hóa sinh học. Thú vị thay, Gen FOXP2, được tìm thấy trong não người nhưng không có ở vượn người, có vai trò quan trọng trong việc hình thành khả năng học hỏi ngôn ngữ kỳ diệu của chúng ta. Những người mắc rối loạn FOXP2 có thể hiểu ngôn ngữ nhưng không thể tạo ra các câu hoàn chỉnh.
Trong tác phẩm The Language Instinct xuất bản năm 1994 của giáo sư Steven Pinker, vô vàn những luận điểm và quan sát thú vị về cách con người sử dụng ngôn ngữ đã được mổ xẻ chi tiết, trong đó CHUNKS tập trung vào ba khái niệm nền tảng, cũng là ba khái niệm mà CHUNKS luôn muốn theo đuổi: Ngữ Pháp Phổ Quát Universal Grammar hay UG (CHUNKS gọi lý thuyết cốt lõi này là 10-day Language và đã bắt đầu nghiên cứu mở rộng trên 10-day Japanese và 10-day Finnish), ngôn ngữ trong Tâm Trí Mentalese (CHUNKS đặt tên cho quan sát thú vị này là Nghịch lý số 0) và khái niệm rối loạn gen FOXP2 (CHUNKS đã trải nghiệm qua khá nhiều case những học viên bị rối loạn âm thanh nghe-lặp lại ở trạng thái bán vô thức trong quá trình thực hiện 20+ bài lab test thực tế từ năm 2008)
Ngữ Pháp Phổ Quát (Universal Grammar - UG)
Luận điểm chính:
Bằng chứng:
- Tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều có các yếu tố giống nhau, chẳng hạn như danh từ, động từ, đại từ, câu hỏi, phủ định.
- Khi nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em và ngôn ngữ được sáng tạo ra (pidgin & creole), chúng ta thấy rằng con người luôn có xu hướng áp dụng các quy tắc ngữ pháp có sẵn trong não.
Ý nghĩa:
- Ngôn ngữ không phải là một tập hợp các quy tắc tùy tiện, mà dựa trên những nguyên tắc chung có sẵn trong bộ não con người.
- Sự đa dạng của ngôn ngữ là bề mặt, còn cấu trúc ngữ pháp cốt lõi là phổ quát.
Mentalese - Ngôn Ngữ Trong Tâm Trí
Luận điểm chính:
- Con người không nghĩ bằng từ vựng hay ngữ pháp, mà bằng một dạng ngôn ngữ tư duy gọi là "Mentalese".
- Khi nói hoặc viết, chúng ta chuyển đổi Mentalese thành ngôn ngữ cụ thể.
Bằng chứng:
Ý nghĩa:
- Ngôn ngữ không phải là tư duy, mà là công cụ thể hiện tư duy.
- Con người có thể suy nghĩ mà không cần ngôn ngữ cụ thể, nhưng ngôn ngữ giúp tổ chức và chia sẻ ý tưởng tốt hơn.
FOXP2 và Bằng Chứng Khoa Học Về Ngôn Ngữ
Thí nghiệm & Bằng chứng
Nghiên cứu về gia đình KE (2001)
- Một trong những bằng chứng quan trọng về vai trò của FOXP2 đến từ nghiên cứu về gia đình KE ở Anh.
- Khoảng 50% thành viên của gia đình này bị đột biến FOXP2, gây ra khó khăn nghiêm trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ.
Dấu hiệu của rối loạn do FOXP2 đột biến:
- Gặp khó khăn khi phát âm và điều chỉnh ngữ điệu.
- Không thể nói trôi chảy hoặc tạo câu phức tạp.
- Có thể hiểu ngôn ngữ nhưng không thể diễn đạt rõ ràng bằng lời nói.
Ý nghĩa:
- Ngôn ngữ không chỉ là sản phẩm của môi trường xã hội, mà còn bị chi phối bởi yếu tố di truyền.
- Gen FOXP2 đóng vai trò quan trọng trong khả năng phát triển ngôn ngữ của con người.
Đặc biệt, khi thiết kế chương trình tăng cường phản xạ ngôn ngữ ERE, cách CHUNKS phân chia cấu trúc chương trình luyện tập thành 7 phần từ nhỏ đến lớn cũng như bước số 2 (“Grasp the idea” hay nắm được “Mentalese” theo cách gọi của Steven Pinker ở trên) trong chu trình 3 bước luyện tập phản xạ chuyển ý đã phần nào chịu ảnh hưởng lớn bởi những nghiên cứu thực tế và lý thuyết cấu trúc ngữ điệu (prosodic structure theory) trong công trình hệ thống phân cấp ngữ điệu của giáo sư và là nhà ngôn ngữ học lý thuyết nổi tiếng Elisabeth Selkirk, vốn là một trong những thành viên quan trọng của khoa ngôn ngữ học đại học MIT và lý thuyết trên cũng đã từng được đề cập đến trong tác phẩm Phonology and Syntax: The Relation Between Sound and Structure (1984) của bà.

Đăng Ký Trải Nghiệm EE
Sẵn sàng làm chủ âm thanh bạn tạo ra khi giao tiếp bằng tiếng Anh.
