February 11

0 comments

TRỜI HÔM NAY NHIỀU MÂY CỰC

The image visually narrates a poetic and introspective journey of a young man, captured within the confines of a hovering helicopter yet juxtaposed against the limitless freedom of the sky. As the vast expanse of clouds envelops the scene, it symbolizes a multitude of emotions and thoughts, ranging from contemplation to liberation, echoing the sentiment of the Den’s lyrics.

The young man, seated inside the helicopter, becomes the focal point of this narrative. His closed eyes and hand over his heart suggest a deep engagement with his inner self, perhaps reflecting on life's complexities or simply lost in the beauty of the moment. This gesture of introspection is further emphasized by the simplicity and minimalism of the helicopter's interior, which serves not to confine but to frame his connection with the expansive sky outside.

The clouds, depicted in varying shades and densities, add layers of depth and texture to the sky, symbolizing the ever-changing nature of thoughts and emotions. They represent the ethereal, the unattainable, and the transient aspects of life, offering a visual metaphor for the young man's internal exploration.

This scene is a poignant reminder of the human capacity for introspection and the quest for meaning amidst the vastness of our surroundings. It captures a moment of solitude and reflection, where the physical boundaries of the helicopter contrast with the boundless sky, mirroring the contrast between human limitations and the limitless potential of the human spirit.

This English lyric was generated and analyzed by CHUNKS lyrical team:

VIETNAMESE

ENGLISH

CHUNKS analysis

Khổ 1

Verse 1

Cell

Trời hôm nay nhiều mây cực

Today is cloudy as fudge

Cách dùng từ "cloudy as fudge" vốn là một cách dùng từ khá tinh nghịch, ý chỉ về độ dày của mây trời. Có lẽ Đen muốn nói về một tâm trí túng quẫn bí bách như cách nói "a cloudy mind" trong tiếng Anh

Đặt bàn tay mình ngay ngực

Place my hand right on my chest

Nếu nói về chọn từ thì việc đặt một thứ A ở một vị trí B cơ bản sẽ có 3 lựa chọn: place, put và leave. Place là đặt chính xác vào vị trí B, put là đặt nó lên đâu đó xung quanh B còn leave là để đại nó ở đâu đó hoặc có ý trả về chỗ cũ. Vậy đặt tay lên ngực (ý chỉ đặc trưng cho hành động có tâm/tim) thì nên chọn place vì vị trí tim nằm đâu chắc mọi người đều biết rồi nhỉ

Nghe con tim mình xóc nảy

Listen to the pitter-patter

Nghe tim mình xóc nảy không có nghĩa là đang hồi sức tim phổi CPR hay gì mà ý chỉ nhịp tim đập thình thịch, tim thình thịch là một con tim còn sống, là mình còn thở và vẫn còn có cơ hội để gỡ. Từ láy âm "thình thịch" này trong tiếng Anh cũng là một từ láy âm "Pitter-patter"

Chiều mướt mải làn tóc bay

Hair flutters in the afternoon wind

Khi nói về tóc, chúng ta hay dùng cụm từ bay phấp phới. Trong tiếng Anh, từ bay phấp phới này gọi là "flutter" cũng chính là tiếng vỗ cánh phành phạch của cánh chim

Tâm tư tựa như bánh tráng

My thoughts are as clear as glass

Khi Đen so tâm tư mình với bánh tráng, anh hẳn không có ý nói tâm tư mình sẽ rất ngon khi trộn với mắm me mà là một tâm tư mong manh có thể nhìn xuyên thấu qua. Người Mỹ cũng có một hình ảnh tương tự, đó là ví tâm trí họ tường minh như một tấm kính 

Mỏng và có màu cánh gián

Thin as a whisper and pale as a ghost

Có lẽ Đen muốn vẽ nên sự nhạt nhoà và xanh xao của một tâm trí u sầu (melancholy). Người Mỹ sẽ so sánh điều này như trong phần dịch: mỏng như một lời thì thầm và trắng bệch như một bóng ma

Không muốn lòng cứ âm u

Don't want the heart to feel gloomy

Từ "gloomy" là một từ đặc trưng gợi ngay nên rất nhiều chuyện buồn. Bản nhạc gây tự sát nhiều nhất TG là một bản nhạc Hungary có tên là "Gloomy Sunday" và khi nói về một bức tranh kinh tế ảm đạm, người ta sẽ nghĩ đến cụm từ "gloomy picture"

Giữa căn phòng nhiều ánh sáng

Amidst a room filled with light

Khi nói về chữ "giữa" cơ bản chúng ta sẽ có 3 lựa chọn sau: Amidst (giữa một môi trường to lớn và là nghĩa bóng) ví như amidst a crowd, among (giữa/trong số một nhóm) kiểu như among my friends và between (giữa 2 thực thể/location, quan trọng là 2) ví dụ như between A and B

Lấy xe rời bỏ phố xa

Hop on a bike leaving the city far behind

Thay vì lấy xe tà tà (retrieve/take your bike) thì CHUNKS cố tình chọn chữ "hop on" là nhảy lên yên xe, ý nói sự vội vàng, trốn chạy ai lại không vội?

Nơi đó nhiều khi làm khó ta

That place puts us in a bind at times

Cụm put ai đó "in a bind" có ý mô tả hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan (double bind) của chúng ta khi phải đối mặt với vô vàn những quyết định khó khăn nơi cuộc sống xô bồ chốn thành thị

Không chở ai nên có đà

An empty backseat creates some momentum

Đoạn này chỉ thể hiện Đen có học vật lý 10, đà = khối lượng x vận tốc hay p = m.v

Lên con dốc bằng số ba

Going up the hill in the third gear

"Going up the hill" có thể nói gọn lại thành "Ride uphill" với hill là adv

Lại đi tìm về lối nhỏ

Going back to search for the narrow path

Hình ảnh lối nhỏ "narrow path" trong văn học có thể là ẩn dụ (metaphor) cho một con đường hẹp đặc trưng với đầy rẫy những khó khăn và gian khổ để đạt đến một điều gì đó cao quý

Mắt nhìn trời đầu thì gối cỏ

Eyes looking up at the sky, head resting on the grass

Một Chunker đã từng trực tiếp trải nghiệm điều này. Nếu đó là một ngày xanh ngắt thì đó sẽ là một trải nghiệm vô cùng đẹp đẽ nhưng có phần bồi hồi vì đó là tượng trưng cho sự "về đất," là sự trở về với mẹ và là lúc tuyệt vời để trầm ngâm (contemplation). Ở đây chúng ta hạn chế dùng "look up to" vì cụm này nghĩa là ngưỡng mộ ai đó

Nặn mặt trời thành một khối đỏ

Squeezing the sun's face into a red blob

CHUNKS chọn từ "squeeze" để chỉ sự nhào/bóp nặn - Đồng thời, từ blob có lẽ là khá lạ lẫm, blob là ý chỉ một khối màu vô định hình (amorphous). Ta sẽ không chọn dùng từ "lump" vì lump là một khối solid (a lump of clay) trong khi blob thường là khối màu (paint a colorful blob)

Đôi khi nhắm mắt lại nhìn mới rõ

Sometimes, closing your eyes helps you see more clearly

- Câu nói này thể hiện góc nhìn rất sâu sắc của Đen. Có những con mắt vốn chưa bao giờ nhắm, chỉ là chúng ta luôn cố đánh lạc hướng (distract) nó bởi hai con mắt vật lý bên ngoài của mình

Nhắm mắt lại trời tối om

Close your eyes and the sky will go pitch black

Ta có thể chọn giữa "go" và "turn," ý nghĩa vẫn không đổi mấy, đều là hoá thành. Từ "tối om" trong tiếng Việt được người Mỹ chọn cụm từ "pitch black" để mô tả. Pitch ở đây ý chỉ chất hắc ín đen như nhựa đường (tar-like)

Gom mây lại thành gối ôm

Gathering clouds to make a cuddle pillow

Từ "cuddle pillow" hoặc "hug pillow" được chọn để chỉ từ "gối ôm"

Chất muộn phiền thành khối rơm

Turning troubles into a bundle of hay

Một đống rơm được CHUNKS chuyển ngữ thành "a bundle of hay." Việc biến một mớ vấn đề gánh nặng (burdensome) thành một thứ có ích (đống rơm) thể hiện sự lạc quan trong mọi nghịch cảnh của Đen

Lửa lòng cháy mùi khói thơm

The burning passion smells like sweat smoke

Giữa hai cụm từ "Burning passion" và "flame of passion," CHUNKS đã chọn cụm từ đầu tiên để bộc lộ sự cháy bỏng khi nói về ngọn lửa bên trong mỗi người, một ngọn lửa vốn có thể tạo ra hơi nước ngùn ngụt đẩy đoàn tàu về phía trước, hoặc, thiêu trụi nó. Có lẽ sẽ là tuỳ vào khói nó tạo ra có "thơm" hay không?

Rừng lặng tiếng và im hơi

A quiet forest, with barely a breath

Cụm từ "barely a breath" được chọn để đẩy mức im lặng ở trong một khu rừng, im không một tiếng thở. Bản chất "barely" có nghĩa là "chỉ vừa đủ để" hoặc "chỉ vừa mới." Ví dụ: You just barely knew me!

Im cho tới độ nghe kim rơi

So quiet that you can hear a pin drop

Cách ví von so sánh tình trạng cực kỳ tĩnh lặng (profound stillness) đến nỗi nghe được cả tiếng kim rơi thực ra đến từ văn hoá Mỹ với cụm thành ngữ "can hear a pin drop"

Sầu thi nhau mà tháo chạy

Sorrows rush to flee in tow

Chữ "thi nhau" ở đây không có nghĩa là thi thố mà là nối đuôi nhau, do đó, CHUNKS đã chọn cụm từ "in tow" phía sau cụm từ vội vã tháo chạy (rush to flee)

Chiều nay nắng mang tim phơi

Hearts hung dry by afternoon glow

- Cụm từ "hung dry" có ý nghĩa treo lên hong gió cho khô lại, ví như việc phơi đồ
- Từ "glow" được chọn ý chỉ một đốm sáng khi ánh sáng tạo ra không còn mang theo lượng nhiệt năng quá lớn như ánh sáng giữa ngày. Afternoon glow là một mảng sáng rực vào cuối giờ chiều, ánh lên sự bình an và năng lượng healing

Điệp khúc

Chorus

Cell

Đi vào rừng một mình không có rủ ai

Into the woods alone without any companion

- Cụm "Into the woods" được chọn để nhắc nhớ về 2 tác phẩm văn học lớn cùng concept đi vào khu rừng rậm nội tâm, "Norwegian wood" của Murakami và "Into the wild" của Jon Krakauer
- "Companion" là một người bạn đồng hành, một người đi chung để con người tạm quên đi họ đã đến và sẽ rời khỏi thế giới này một mình.

Ngực no mùi đất mẹ, làm con đủ high

Puffing on Mother Earth, enough to get so high

Hẳn bạn đã từng nghe cụm từ thở hổn hển (huff and puff). Do vậy, CHUNKS đã chọn cụm từ "puff on" (inhaling) đã chỉ việc hít căng một hơi mùi đất mẹ, từ đó thể hiện tính gắn kết muôn đời giữa con người và trái đất này, cũng là lời nhắc nhở chúng ta chỉ là cát bụi.

Sẽ luôn là người tốt, như là lũ nai

Always be a good samaritan, innocent as a fawn

- Cụm từ "A good samaritan" CHUNKS chọn chỉ là muốn mắm muối thêm, chỉ đơn giản nghĩa là "a good person." Cụm từ này bắt nguồn từ một câu chuyện trong Kinh Thánh khi có một người Samari tốt bụng đã giúp đỡ một người qua đường khi chẳng có ai khác chịu giúp
- Nếu như trong văn hoá Việt, chúng ta thường nói "ngây thơ như con nai vàng ngơ ngác" hay "giả nai" thì văn hoá Mỹ cũng dùng hình ảnh "innocent as a fawn" để chỉ ẩn ý này (fawn là young deer)

Học cách làm chủ được mình trước khi làm chủ ai

Learn to master yourself before mastering others

Nếu chúng ta dùng master ở dạng verb, nó có thể có nghĩa là siêu giỏi hoặc ta có thể control được điều đó. Ví như master my temper (control tính khí nóng nảy)

Ở trong rừng an toàn hơn ở trên mạng

Into the woods is safer than on the internet

- Có một vài lý thuyết đã nói về mối liên hệ giữa anonymity (tính ẩn danh) và khả năng làm điều tiêu cực của con người trong XH

Một mình vẫn tốt hơn là mất thêm bạn

Solitude is still better than losing a friend

Nếu lonely là cô đơn, alone là một mình thì solitude hẳn nên dịch là sự độc hành, ý chỉ một sự chủ động lựa chọn cô đơn

Thế giới này không phải của chúng mình đâu

This world does not belong to us whatsoever

CHUNKS cố tình thêm whatsoever ở cuối câu để nhấn mạnh. Dù là hai cách nói ngược nhau hoàn toàn, nhưng có lẽ, Đen Vâu và Trịnh Công Sơn đều đang nói tới cùng một khía cạnh của vấn đề

Loài người được đằng chân rồi lân đằng đầu

Give someone an inch and they will take a mile

Câu thành ngữ này với phiên bản Gen Z là "được voi đòi hai bà trưng" có thể chuyển ngữ sang thành "Give someone an inch and they will take a mile" cho văn hoá Mỹ

Khổ 2

Cell
Cell

Ta bị không gian thao túng

We inherently yield to space

- CHUNKS dùng inherently ý chỉ một điều vốn dĩ, nằm trong DNA của mỗi chúng ta
- Thay vì dùng từ "manipulate" (thao túng), CHUNKS quyết định chọn cách nói "yield to" ý chỉ sự nhượng bộ của con người bởi chính không gian sống của mình

Bị thời gian làm cho nao núng

Time has us hesitate

Ở câu này, Đen lại nói về thời gian, yếu tố thời gian luôn khiến chúng ta chần chừ, nao núng. Và trùng hợp thay, trong tiếng Anh có một thành ngữ về hesitate, rằng "He who hesitates (is lost)" ý chỉ về chi phí cơ hội thường là cao hơn rất nhiều so với những gì chúng ta thấy

Bị giới hạn trong đủ đầy

Being confined within abundance

Sự dư thừa cũng phần nào khiến chúng ta lo lắng và sợ hãi. Chúng ta tự "confine" mình trong chiếc hộp chính mình tạo ra

Trong những đêm suy tư và ngủ ngày

And sleeping in after restless nights

- "Sleep in" thường được CHUNKS dịch ra là ngủ nướng, nghĩa là ngủ vào thời gian ban ngày do đêm ngủ muộn hoặc quá mệt mỏi sau những đêm trằn trọc (restless nights)

Bao nhiêu đôi ở trong tủ giày

Several pairs in the shoe cabinet

"Tủ giày" sẽ là "shoe cabinet"

Liệu con đường kia có dễ bước?

Is that path easy to tread though?

- Dù không nói ra nhưng câu phía trên lắp vào câu bên dưới thì hẳn đã ẩn đi chữ "mặc dù" (though)
- Chữ tread (bước/đi theo) được CHUNKS lựa chọn ứng với idiom "tread the difficult path" với ý nghĩa chủ động chọn đi theo con đường khó khăn chông gai

Bọc thêm áo và thêm quần

Wrap up in more clothes all the way

- Cụm từ "wrap up in" được chọn thay vì "add more layers of clothes" để thể hiện rõ ý định ôm ấp bảo vệ lúc bọc lại
- All the way chỉ là cách nói thay cho completely

Mà lòng người thật ra vẫn dễ xước

Humans' hearts still easily got scratched

- Các bạn cũng có thể dùng từ unscathed để thể hiện tính nguyên vẹn không trầy xước

Đời sao kì lạ, đúng ra

Life is so strange. It should've...

- Ở đây CHUNKS dùng "It should've..." với ý chỉ một điều đáng ra đã khác đi trong quá khứ

Đừng bắt ta chọn giữa súng-hoa

It shouldn't have made us choose between guns and flowers

Nối tiếp với câu trên, CHUNKS xây dựng cả cụm "It shouldn't have..." ý chỉ đúng ra cuộc đời (đã) không nên... Hình ảnh súng-hoa có lẽ luôn làm chúng ta nhớ lại bức ảnh phản đối chiến tranh VN nổi tiếng của Bernie Boston năm 1967. Một lần nữa, tư duy phản biện Either-Or lại xuất hiện.

Đừng cầm gót chân rồi nhúng qua

Stop dipping our heels of Achilles

CHUNKS dùng hình ảnh "Heels of Achilles" vì một câu hát 7 chữ của Đen đã xuất sắc phá đảo 2 khái niệm triết học cùng lúc:
1. Hình ảnh Gót chân A-sin huyền thoại trong thần thoại Hy Lạp cổ (Heel of Achilles) nói lên điểm tử huyệt luôn tồn tại ở mỗi người. Hay như Morgan Freeman đã nói trong Shawshank Redemption "Every man has his breaking point"
2. "Đừng cầm gót chân rồi nhúng qua" chính là nhúng qua nước sông Styx, mẹ của Achilles đã nhúng chàng trai vào dòng sông Styx để cậu thành mình đồng da sắt, và rồi điểm yếu nhất lại chính là chỗ bà cầm, gót chân. Nếu chúng ta nhúng cả gót chân vào thì giờ đây, con người sẽ không còn yếu đuối nữa, và con người sẽ không còn là con người nữa.

Chúng ta thuộc về chúng ta

We make our own history

Giữa cách dịch thông thường, "we belong to ourselves" thì ở cách dịch thứ hai, chúng ta có thể hiểu rõ hơn được bản chất nối tiếp của sự tồn tại, đó là kết quả của một dãy những quyết định liên tục được thực hiện bởi chính chúng ta. Đó là hiệu ứng cánh bướm đề cập trong Mr. Nobody

Rốt cuộc thì ai cũng sẽ bị buộc phải lớn

Everyone will be forced to grow up eventually

Thời điểm trưởng thành của mỗi người cơ bản là khác nhau. Nhìn rộng ra, có lẽ chúng ta đã và đang luôn chọn cho mình option nào đỡ painful hơn giữa hai viên thuốc xanh/đỏ kia

Niềm đau sẽ đến một ngày không muộn thì sớm

Pain will come one day, sooner or later

Sự khổ có lẽ là không thể tránh khỏi (inevitable) vốn là một điều nghe rất đỗi tiêu cực, đoạn này nhiều bạn sẽ nhầm thành (indispensible) tức là không thể thiếu, ý chỉ một điều tích cực. Mà không chừng indispensible lại đúng thật ấy chứ...

Không còn là trẻ

Gone are the days of being kids

Cấu trúc đảo ngữ "Gone are the days of..." vốn là cách dịch vui tai ứng với cách nói "còn đâu những ngày..." trong tiếng Việt ý nhấn mạnh sự nuối tiếc và hoài niệm một thời (nostalgia)

Lên năm lên ba

When we were little kids

Cell

Nghĩ cho thật kỹ trước khi đặt một hình xăm lên da

Think it through before getting a tattoo on your skin

CHUNKS chọn "think it through" để chỉ việc "nghĩ thông suốt" trước một vấn đề hệ trọng

Miệt mài viết tiếp để những đêm trắng hoá thành đêm bạc

Lose myself in composing so that all-nighters will pay off in the end 

- Cụm từ "lose myself in..." nhắc nhớ câu hát nổi tiếng "You better lose yourself in music" của Eminem hát trong 8 mile, ý nói khi ta có thể đắm chìm vào một điều gì đó có thể làm thời gian ngưng đọng
- Khi ta thức rất nhiều đêm trắng (Pull a lot of all-nighters) và hi vọng nó sẽ hoá châu báu khi mọi nỗ lực được đền đáp (pay off)

Lòng tham duy nhất là mong trong đầu có nhiều thêm nhạc

My only greed is to have more tunes in the head

- Cụm từ "have more tunes" ý chỉ có nhiều hơn giai điệu xuất hiện trong đầu để tạo cảm hứng viết nhạc

Và vẫn chối từ cái ngủ ghé đến đòi hôn mắt nồng

And still refusing to succumb to sleep, which comes demanding sweet kisses

- CHUNKS chọn từ chối để "succumb to sleep" ý nói từ chối việc chịu khuất phục trước cơn buồn ngủ, thứ hứa hẹn sẽ mang lại những "sweet kisses" ý chỉ sự ấm áp thoải mái như những nụ hôn ngọt ngào của việc chìm vào giấc ngủ khi đã quá mệt mỏi

Dù biết một ngày mọi thứ cũng thành "nhựa nhôm sắt đồng"

Even knowing that one day everything will be reduced to scrap metal

Cụm từ "reduced to scrap metal" ý nói mọi thứ rồi sẽ hoá thành "ve chai"

Chỉ mong là không còn cau mày

Just hope there won't be any frowns

Những cái cau mày trong tiếng Việt sẽ được dịch là "frowns" trong tiếng Anh

Học cách để làm mình bình thản

Learn to calm yourself down

Nếu ở đâu ý Đen bình thản là do việc buông bỏ thì có thể dịch "Learn to let things go"

Từ niềm vui cho tới niềm đau này

From the highs to the lows

Cách dịch này tạo cảm giác mạnh hơn nhiều so với cách dịch truyền thống "From joy to pain" vì nó gợi nhớ cụm từ "ups and downs of life" (những thăng trầm của cuộc sống)

Và mong là còn được cười, ngày

And hope there will still be laughter

Nếu đó là những tràng cười lớn, thậm chí ta có thể dùng cụm "gales of laughter"

Mây kéo trắng về trên luống tóc

The day when my locks turn cloudy gray

- Từ "locks" ý chỉ một lọn/luống tóc, ví như những flowing locks (những lọn tóc bồng bềnh)
- Cụm từ "Turn cloudy gray" để chỉ màu tóc hoá xám bạc như màu mây trời

Vẫn chưa từng được gặp Tăng Thanh Hà

(I) have yet to bump into Tang Thanh Ha

- Cụm từ "have yet to..." ý chỉ vẫn chưa làm điều gì đó

Nhưng đôi khi bỗng dưng lại muốn khóc

Yet sometimes an unexpected urge to weep arises

- Trong văn chương, cụm từ "Urge to weep" là những khi lên cơn sụt sịt, thường là vì một chuyện buồn lòng hơn là vết thương ngoài

Khổ 3

Cell
Cell

Nếu cho ta ngai vàng, ta sẽ bán lấy tiền mua bánh ăn

I would trade a golden throne for cash to fill my stomach

- Cụm từ "a golden throne" ý chỉ ngai vàng sẽ được dùng để đổi lấy tiền mặt và mua thứ gì đó để làm no bụng hơn là hư danh

Mua bánh bò, bánh pía, bánh trung thu và thèm cả bánh căn

Buy sponge cakes, pia cakes, mooncakes and even craving căn pancakes

- "Sponge cakes" là cụm từ hay được dùng để chỉ bánh bò do texture bánh có phần giống miếng bọt biển rửa chén

Cũng vì tiết kiệm nước, nên nhiều lần chỉ tắm trong ánh trăng

Many times I have bathed in moonlight as I've got water to save

- Cụm từ "bathe in moonlight" không nhất thiết nghĩa là cầm xô nước dội lên người dưới trăng mà có thể hiểu một cách ẩn dụ là một trải nghiệm đắm chìm (immerse) vào ánh trăng và cảm thấy sự kết nối với trời đất

Làm gì thì cũng vậy, ngày hai lần ai cũng phải đánh răng

Whatever it is, twice a day everyone must brush their teeth

- Ý chỉ sự tuần hoàn của đời sống và về bản chất thì mọi người đều có những nhu cầu cơ bản hệt nhau

Ngày còn nhỏ anh thường băn khoăn

When I was young, I used to ponder

- Có một vài từ có thể chọn thay cho "Ponder" đó là contemplate, meditate, ruminate, reflect hay cả mull over

Có điều gì đó ở trên cung trăng

What are there on the moon's arc?

- Cụm từ cung trăng sẽ được dịch là "moon's arc"

Nếu là chú Cuội và chị Hằng

If there were the moon lady and the moon boy

- Chú Cuội và chị Hằng lần lượt hay được gọi là "The moon boy" và "The moon lady" hay "moon goddess"

Họ lấy cái gì làm thức ăn?

What would they use as food?

Cell

Rồi tình đầu tới, buổi tối đầu tiên

And then came the first love, the first evening

Cell

Em thơm và ngậy như là múi sầu riêng

Like durian flesh, you're so aromatic and rich

- Cơm trong trái cây chúng ta có thể dùng từ "flesh" để miêu tả - Ta có thể linh động chọn từ fragrant thay cho từ aromatic - Từ creamy vẫn có thể dùng để thay cho từ rich, ý chỉ sự béo ngậy

Lòng mình khi đó như được sơn sắc hồng

At that time, my heart felt like it was painted pink

- Màu hồng đại diện cho một nỗi niềm vui mừng hạnh phúc bên trong tim

Còn e dè hệt như chim ôm chắc lồng

As shy as a bird clutching tightly to its cage

- CHUNKS chọn từ clutch tightly để chỉ hành động bám chặt vào lồng

Như tranh của Levitan

Like a Levitan's painting

Cell

Mùa yêu năm đó thật vàng

That year's love season was truly golden

Cell

Em như là con nai nhỏ

You're like a fawn

Cell

Anh là đám lá thu sang, oh

I'm like the autumn leaves bundle, oh

Cell

Tình yêu như lò vi sóng, làm ta nóng từ trong ra

Love is like a microwave, heating us up from the inside out

Cell

Mang đến nhiều dư vị như đồ ăn chợ Đông Ba

It left such a rich aftertaste as food from Dong Ba market

- Dư vị hay hậu vị khi chuyển qua tiếng Anh thì đó là "aftertaste"

Tiếc là mình không gặp người lái đò ở Sông Đà

Unfortunately, we didn't come across the ferryman at Da river

- Come across sẽ tạo cảm giác bắt gặp hoặc đi ngang qua hơn là meet

Nên em thì ra cửa Đáy, anh đổ ngược về Sơn La

Thus you drifted to Day estuary, I find myself back in Son La

- Từ estuary được chọn để tả vùng cửa sông nơi nó đổ ra biển lớn
- Từ drifted ngụ ý hành động bị trôi dạt mất phương hướng

Mình lao vào những guồng quay

We throw ourselves into the whirl of life

- Nếu dùng cụm từ "got swept away by..." thì sẽ mang nghĩa bị cuốn phăng đi. Nhưng nếu dùng cụm "throw ourselves into..." thì đó là sự tự nguyện ném mình vào dòng chảy hơn là vô tình té vào đó
- Cụm từ "whirl of life" ý chỉ guồng quay cuộc đời

Giờ cũng không thấy buồn mấy

And have become desensitized ever since

- Cụm từ "ever since" ý nói một hành động đã diễn ra từ lúc đó
- Từ desensitized (mẫn cảm) sẽ là sự lựa chọn phù hợp hơn những từ như "don't feel sad at all" hay "don't feel anything"


Tags


You may also like

SOUND Science
10-day Music

ere experience

Đăng Ký Trải Nghiệm ERE

Chương trình 60h giúp cải thiện khả năng phản xạ nói và nghe
tiếng Anh một cách phù hợp với bạn nhất.